HMH's Blog

ifconfig, route, ping và traceroute.

Posted by hmha on Tháng Mười Một 16, 2008

ifconfig

-Lệnh ifconfig để thiết lập địa cho card mạng. Để nhận thông tin của các thiết bị mạng hãy chạy ifconfig.
# ifconfig
eth0 Link encap:Ethernet HWaddr 00:19:5b:fd:78:f1
inet addr:192.168.1.1 Bcast:192.168.255.255 Mask:255.255.255.0
UP BROADCAST MULTICAST MTU:1500 Metric:1
RX packets:0 errors:0 dropped:0 overruns:0 frame:0
TX packets:0 errors:0 dropped:0 overruns:0 carrier:0
collisions:0 txqueuelen:1000
RX bytes:0 (0.0 B) TX bytes:0 (0.0 B)
Interrupt:12 Base address:0xc000
eth1 Link encap:Ethernet HWaddr 00:40:f4:6f:b5:e9
inet addr:10.179.79.243 Bcast:10.179.79.255 Mask:255.255.248.0
UP BROADCAST RUNNING MULTICAST MTU:1500 Metric:1
RX packets:2355848 errors:0 dropped:0 overruns:0 frame:0
TX packets:1500132 errors:0 dropped:0 overruns:0 carrier:0
collisions:0 txqueuelen:1000
RX bytes:3246698097 (3.0 GiB) TX bytes:176225100 (168.0 MiB)
Interrupt:11 Base address:0xcc00

-Để gán địa chỉ cho card mạng chúng ta sử dụng ifconfig với cú pháp:
# ifconfig tên_thiết_bị_mạng IP_address netmask x.x.x.x broadcast y.y.y.y
-Trên hệ thống Linux bạn có thể sử dụng nhiều IP cho một card vật lý, vì thế bạn có thể dùng một card vật lý để nối với nhiều mạng khác nhau. Ví dụ:
# ifconfig eth0:0 IP netmask x.x.x.x broadcast y.y.y.y up

route

– Lệnh route dùng để thao tác đến bảng dẫn đường của kernel. Nó được sử dụng để xác định đường dẫn cố định đến những máy hoặc những mạng qua cards mạng ethernet đã được cấu hình bởi ifconfig.
-Để hiện thị bảng đường dẫn hiện tại hãy chạy:
# route
-Cú pháp của route:
# route add -net ADDRESS netmask x.x.x.x gw y.y.y.y
-Sử dụng lệnh route cũng như ifconfig thành thạo sẽ giúp ích nhiều cho các quản trị hệ thống. Bạn dễ dàng thay đổi cấu hình kết nối của server.

ping

-ping dùng để xem 2 máy đã kết nối được với nhau chưa. Cú pháp câu lệnh rất đơn giản:
$ ping host

traceroute

-Lệnh traceroute là một tiện ích hữu dụng để chuẩn đoán hoạt động của mạng. Cú pháp của lệnh giống như lệnh ping nhưng kết quả không chỉ cho biết 2 host có kết nối được với nhau không mà còn chỉ ra các thiết bị trung gian nằm giữa 2 máy (tuyến đường đi của packages). Qua đó biết được thiết bị nào cấu hình sai. Ví dụ:
$ traceroute 192.168.1.1
traceroute to 192.168.1.1 (192.168.1.1), 30 hops max, 40 byte packets
1 192.168.0.1 (192.168.0.1) 1.712 ms 2.212 ms 2.724 ms
2 192.168.1.1 (192.168.1.1) 6.437 ms 6.561 ms 6.686 ms

-Tuy nhiên khi bạn kết nối với một máy ở xa trên Internet, do có nhiều mạng với những tường lửa nên nhiều khi lệnh pingtraceroute không chạy nhưng trên thực chất là mạng hoạt động bình thường.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: